Chùa Bổ Đà – Trung tâm Phật giáo lớn ở Bắc Giang (Kỳ 4)
lượt xem: 1842            Ngày đăng: 21/07/2015

Chùa Quán Âm và am Tam Đức là hai công trình tiêu biểu trong quần thể thắng tích Bổ Đà sơn. Kiểu kiến trúc, điêu khắc, trang trí quy chuẩn, cùng với những tư liệu Hán – Nôm có giá trị... tạo nên sức hút đối với nhiều khách tham quan và những nhà nghiên cứu.

 Chùa Quán Âm – Cảnh Phật đường sáng láng bình yên

Chùa Quán Âm nằm ở vị trí cao nhất trong số các hạng mục công trình của khu thắng tích Bổ Đà sơn, còn gọi là chùa Cao, chùa Bổ. Du khách lên đến đây có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát xuống rừng cây, khu chùa Tứ Ân, am Tam Đức và vườn tháp. Không gian chùa không rộng nhưng thoáng đạt, tạo cảm giác an tĩnh của chốn thiền.

Khuôn viên chùa đã được quy hoạch, phía ngoài tường bao được xây bằng gạch phủ vữa, tại các trụ tường bao có đôi dòng chữ Hán:

“Tịch quang chân cảnh

Pháp giới tàng thân”

Tạm dịch:

- Cảnh Phật đường sáng láng bình yên

Pháp giới của nhà Phật là ẩn thân

 

Phía trong tường bao có đôi dòng chữ Hán:

“Nam Hương Tích Phật thiên ứng hiện

Bắc Đà sơn lịch đại truyền đăng”

Tạm dịch:

Phía Nam có chùa Hương Tích, đức Phật luôn ứng hiện

Phía Bắc có chùa Bổ Đà muôn đời hương hỏa

Và:  “Phật hiệu Di Đà

Quốc danh Cực Lạc”

Tạm dịch

- Đức Phật gọi là Di Đà

Nước tên là Cực Lạc

Chùa Quán Âm nằm ở vị trí cao nhất trong khu thắng tích Bổ Đà sơn.

Qua khoảng sân được lát gạch đỏ là đến nội tự chùa. Chùa Quán Âm có bình đồ kiến trúc kiểu chữ Nhị gồm toà Tiền đường 1 gian và tòa Thượng điện 1 gian. Tường chình bằng đất, phủ vữa vôi mật, mái lợp ngói mũi.

Bờ nóc, bờ dải xây gạch, phủ vữa, riêng bờ dải phía trước chùa xây giật cấp kiểu tam sơn để nối với hai cột đồng trụ. Cột đồng trụ được xây bằng gạch, phủ vữa vôi mật.

Trên đỉnh cột đắp trang trí bình cam lồ đặt trên đài sen, dưới là đấu hình vuông và mui luyện uốn cong mềm mại. Tiếp đến tạo bốn ô vuông hình lồng đèn, thân ghi câu đối bằng chữ Hán:

          “Thượng kỳ quan phượng vũ tượng triều tương vân vạn trạng

                  Trung thắng cảnh Phật cung tăng tháp hương hỏa thiên thu”

       Tạm dịch: Phía trên là kỳ quan phượng múa voi chầu cùng mây vạn trạng

                        Phía trong là thắng cảnh Phật cung tăng tháp hương hỏa muôn đời

“Trác trác bỉ sơn tùng tráng….trượng phu mục kích

Đường đường y chỉ trụ di nhiên xích tử tâm tồn”

Tạm dịch: Ngọn núi cao vời vợi tựa như bậc trượng phu vĩ đại

                  Những tảng đá rực rỡ tựa những bậc anh dũng tâm thành.

Tòa tiền đường tạo 3 cửa dạng cuốn vòm gồm cửa lớn chính giữa và hai cửa nhỏ hai bên. Phía ngoài cửa lớn chính giữa có đôi dòng chữ Hán với nội dung:

“Tượng lĩnh triều tiền Bổ xứ ức niên lưu Thánh tích

Phượng sơn ủng hậu Đà thiên vạn cổ hiển linh thanh”.

Tạm dịch:

Phía trước chùa có ngọn núi Con Voi chầu về, chùa Bổ Đà nghìn năm còn lưu dấu tích của bậc Thánh (Thạch linh Thần tướng)

Phía sau chùa có núi Phượng Hoàng trấn giữ, chùa Bổ Đà ngàn năm vẫn nức tiếng linh thiêng, hiển ứng.

Phía trên cửa lớn chính giữa tạo ô hình chữ nhật, bên trong ô trang trí hình lân vờn cầu và biển đề Bổ Đà Sơn (nghĩa là Núi Bổ Đà).

Hai bên tòa tiền đường có đặt ban thờ, nhìn từ trong ra phía tay trái là ban thờ Thiên long bát bộ, phía trên ban thờ là 3 chữ Hán: “Nhạc giáng Thần ” (Non cao Thần giáng), hai bên là đôi câu đối:

“Ngũ giới truyền trì mông Phật đức

                   Lục thông phát nguyện vận Thần cơ”.

Tạm dịch: Ngũ giới được truyền lại theo đức Phật

                Lục thông được phát triển xoay vần theo máy Thần.

Phía tay phải là ban thờ Sơn Thần, bên trên có 3 chữ  Hán “Sơn trấn tĩnh” (Ngọn núi trấn giữ giúp dân được bình yên).

Hai bên là đôi câu đối:

“Bảo chử trấn ma khuông Phật hóa

Quyền hành hộ pháp hiển Thần công”

Tạm dịch: Cây quý trấn ma giúp hóa Phật

       Quyền hành giúp nước hiển công Thần.

Tòa thượng điện có kiến trúc giống tòa tiền đường nhưng nền xây cao hơn tòa tiền đường khoảng 0,40m, hai bên là đôi câu đối:

“Tầm thanh kim nhật cúc tùng phong tống cựu huyền âm

Luyện thạch hà niên tây thổ thiên khuynh tân sa quan”

Tạm dịch:

Tiếng tăm vang vọng đến nay, cúc tùng theo gió thoảng đưa đến cõi Phật

Luyện rèn âm (âm thanh) biết bao năm, các thầy tăng đạt được đến miền đất Phật.

Bên trong tòa thượng điện có đặt pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát làm bằng chất liệu gỗ, được sơn son thếp vàng, ngồi trên bệ. Tượng có khuôn mặt hiền từ, đầu đội mũ quan âm, tay nâng bảo bối, hai bên là hai đứa trẻ.

Theo Đại đức Tự Tục Vinh cho biết: Tượng Quan Thế Âm có từ rất lâu đời, là bức tượng cổ nhất trong quần thể thắng tích chùa Bổ Đà, được tạo tác sau khi xây dựng chùa Quán Âm (chùa Cao) - khoảng thế kỷ XVII-XVIII.

Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đặt trong chùa Quán Âm

Am Tam Đức thể hiện 3 đức của người tu hành

Am Tam Đức là một trong các hạng mục chính thuộc Thắng tích Bổ Đà Sơn. Tam Đức thể hiện ba Đức cần có của người tu hành: Trí đức, Đoạn đức và Ân đức.

Trí đức nghĩa là người tu hành cần phải dùng trí tuệ quan sát các pháp đều là hư giả không thật. Nhờ quan sát như thế nên không nhiễm trước ở nơi các pháp. Do đó hành giả sẽ được giải thoát.

Đoạn đức nghĩa là chỉ cho đoạn dứt hết các thứ vô minh, phiền não.

Ân Đức là chỉ cho cái đức ban ân huệ cho chúng sinh. Ân đức này là do nguyện lực của Phật và Bồ Tát luôn luôn cứu độ chúng sinh. Người có ân đức là người có tâm hồn rộng lượng, bao dung, tha thứ và làm lợi cho muôn loài.

Am Tam Đức là một trong các hạng mục chính thuộc thắng tích Bổ Đà Sơn.

Am Tam Đức được xây dựng cùng thời gian với chùa Tứ Ân vào thời vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng 1740-1786 do nhà sư Phạm Kim Hưng quê ở làng Bình Vọng, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Tây (nay là huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội) đã xuất giá tu đạo được vua sắc phong là Đại sỹ quốc tứ Hảo Tiết Như Thị Hòa thượng, pháp tự Tính Ánh.

Sau khi sư tổ Phạm Kim Hưng viên tịch tại chùa Cao, các sư trụ trì và nhân dân địa phương tu bổ, tôn tạo am Tam Đức khang trang làm nơi thờ sư tổ Như Thị-Phạm Kim Hưng (vị sư tổ đầu tiên trong số gần 700 vị sư tổ của dòng thiền Lâm Tế viên tịch và an táng cốt nhục tại chùa). Có thơ truyền tụng rằng:

Tôi Tính Ánh vốn quan nhân

Quê ở Bình Vọng ở gần Thăng Long

Thương dân tội khổ trong lòng

Ngán thay triều chính như ong vỡ bờ

Thôi đành treo ấn từ quan

Trở về thôn dã du nhàn cho khuây

Sách ô khăn gói về đây

Đi tìm cảnh vật để xây mộng vàng

Một hôm đến núi Phượng Hoàng

Ngắm nhìn cảnh vật rộn ràng mến yêu

Cảnh sao cảnh đẹp tuyệt kiều

Hai bên cánh núi cảnh đều tối linh

Bên thì Thạch tướng thiên đình

Giúp dân cứu nước thu linh về trời

Bên thì tế độ cứu đời

Phật Bà thác tích về nơi Niết Bàn.

Am Tam Đức hiện nay là công trình mới được trùng tu, tôn tạo, mở mang vào năm 2010, có bình đồ kiến trúc theo kiểu chữ nhất gồm 5 gian, trong đó 3 gian giữa được xây kiểu chồng diêm 2 tầng; tường xây gạch, phủ vữa, trong quét vôi trắng, ngoài quét xi măng.

Mái lợp ngói mũi. Bờ nóc phía trên, bờ dải, bờ guột xây gạch trát vữa. Hai đầu bờ nóc trên đắp trang trí hình hai con kìm đang trong tư thế miệng há rộng, ngậm vào đầu bờ nóc với đặc điểm phần thân, đuôi là hình hoa văn kỷ hà; phía dưới bờ nóc xây gạch, phủ vữa; khúc nguỷnh có đắp trang trí hai con nghê đang trong tư thế ngoảnh vào trong, 4 đầu đao hình đầu rồng.

Bờ dải xây giật cấp kiểu tam sơn để nối với cột đồng trụ ở hai bên am. Cột đồng trụ xây bằng gạch, phủ vữa, trên đỉnh cột đồng trụ đắp hình 4 con phượng chung thân; hai cột đồng trụ khắc đôi câu đối bằng chữ Hán:

Câu đối 1: “Nam thiên tục diệu Bổ Đà sơn

                   Đông thổ mạch lưu Lâm Tế phái”

Tạm dịch:

Ở trời Nam chùa Bổ Đà luôn luôn tỏa sáng

Vùng phía Đông dòng Lâm Tế mãi lưu truyền.

Câu đối 2: “Hoạt bát Thần cơ vân xuất tụ

Linh minh pháp tính nguyệt đương không”

Tạm dịch:

 Bậc Thần ứng biến xuất hiện nơi đỉnh núi cao vút trời mây

Phép Phật linh thiêng tỏa chiếu tựa ánh trăng sáng giữa trời

Phía trước am Tam Đức trổ hai cửa hình chữ Thọ cách điệu; am có 3 cửa gồm 18 cánh, 4 cánh gian giữa làm theo kiểu thượng song hạ bản, còn lại làm theo kiểu cửa bức bàn. Tất cả các cánh cửa đều được đứng trên bạo cửa và ngưỡng cửa để tránh xê dịch.

Am Tam Đức có 3 cửa gồm 18 cánh

Nền am lát gạch vuông đỏ. Các cấu kiện kiến trúc đều được làm bằng gỗ lim bền chắc, chạm khắc đề tài hoa lá. Phía trên gian chính giữa có bức đại tự: Như Thị Tổ (tổ Như Thị), phía dưới là bức cửa võng chạm khắc hình hoa lá lộng lẫy và đôi câu đối:

“Nhữ vấn Thiền tổ ý vân hà

Ngã văn cổ Phật thuyết như thị”

Dịch nghĩa: Các ngươi hỏi Thiền tổ ý như thế nào

                    Ta nghe cổ Phật thuyết như vậy.

Trong am có gian án, trên đặt pho tượng Tổ Như Thị được tạo tác bằng chất liệu gỗ, đang trong tư thế ngồi tọa thiền trên bệ gỗ, hai tay đặt trong lòng đùi, mặt sơn phấn hồng có nhiều nếp nhăn, tượng mặc hai lớp áo sơn màu đỏ. 

Cùng với các hạng mục khác, chùa Quán Âm và am Tam Đức tạo nên quần thể thắng tích Bổ Đà với kiểu kiến trúc, điêu khắc, trang trí độc đáo, sinh động.

Bên cạnh đó là hệ thống tượng Phật, các bức đại tự, hoành phi, câu đối, đồ thờ, tài liệu văn bia chữ Hán – Nôm, thư tịch cổ...

Tất cả đều là những cổ vật quý và tài liệu lịch sử quan trọng để nghiên cứu, tìm hiểu về Phật giáo ở tỉnh Bắc Giang cũng như cả nước nói chung.

(Còn tiếp)

Đăng Lâm – Hùng Luyện

Viết bình luận
Họ tên*:
Email*:
Nội dung*:
Mã bảo vệ*:
   
Du lịch kiểu mẫu
Thông tin hữu ích